Đề xuất 04 nhóm chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

18/03/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Năm 2026, Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) nhằm khắc phục những vướng mắc, khó khăn sau hơn một thập kỷ thi hành Luật nuôi con nuôi năm 2010, đồng thời nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính cũng như đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người được nhận làm con nuôi. Theo dự thảo Tờ trình chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), Bộ Tư pháp đề xuất 04 nhóm chính sách lớn nhằm hoàn thiện khung pháp lý về nuôi con nuôi, hướng đến các nội dung: nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, yêu cầu về hồ sơ, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; hoạt động hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; thu hồi, hủy bỏ giấy tờ nuôi con nuôi; chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Nhóm chính sách thứ nhất: Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Nuôi con nuôi để giải quyết những khó khăn, tồn tại trong thực tiễn và đảm bảo thống nhất trong hệ thống pháp luật. Theo đó, nhóm chính sách này đặt ra nhằm khắc phục những bất cập về điều kiện của người được nhận làm con nuôi, người nhận con nuôi, một số chồng chéo giữa quy định của Luật Nuôi con nuôi với Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân số, Luật Trẻ em. Đồng thời Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cũng chưa quy định cơ chế giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước, gây tiềm ẩn khả năng phát sinh những tiêu cực trong quá trình thỏa thuận giữa các bên về cho, nhận nuôi con nuôi, đồng thời, việc tự thỏa thuận cho nhận nuôi con nuôi là không phù hợp với thông lệ quốc tế.
 Nội dung chính sách này nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Nuôi con nuôi liên quan đến điều kiện của người được nhận làm con nuôi; điều kiện về khoảng cách độ tuổi tối đa giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi; trường hợp cấm nhận con nuôi; xác nhận người đủ điều kiện được nhận làm con nuôi trong nước, xác nhận người trong nước đủ điều kiện nhận con nuôi; độ tuổi của trẻ em được lấy ý kiến đồng ý về việc làm con nuôi; giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi và thu hồi, hủy bỏ giấy tờ về nuôi con nuôi.
Nhóm chính sách thứ hai: Quy định cho cơ quan chuyên môn tại địa phương thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và xác nhận người Việt Nam thường trú trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em ở nước ngoài làm con nuôi nhằm tăng cường tính chủ động, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Xuất phát từ những bất cập trong quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 về thẩm quyền quyết định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi không còn phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, chính sách đặt ra nội dung sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Nuôi con nuôi theo hướng quy định cơ quan chuyên môn tại địa phương có thẩm quyền xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi và quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nhóm chính sách này đặt ra 02 giải pháp thực hiện: trao trách nhiệm cho Sở Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã.
Nhóm chính sách thứ ba: Cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số trong giải quyết con nuôi nhằm tạo thuận lợi tối đa cho người dân. Luật Nuôi con nuôi được ban hành từ năm 2010, trong bối cảnh đất nước chưa phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính nên một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số và định hướng của Đảng, Nhà nước về xây dựng Chính phủ số, xã hội số. Vì vậy, đây là chính sách phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính hiện nay. Nội dung của chính sách gồm: Cho phép người dân: nộp hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi không phụ thuộc vào địa giới hành chính; lựa chọn các hình thức thực hiện thủ tục hành chính phù hợp với điều kiện thực tế của cá nhân; cắt giảm thành phần hồ sơ đối với các giấy tờ đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sơ dữ liệu chuyên ngành, thay thế việc nộp giấy tờ bằng việc khai thác dữ liệu; quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và giải quyết việc nuôi con nuôi.
Nhóm chính sách thứ tư: Phát triển hoạt động hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm công tác giải quyết việc nuôi con nuôi được thực hiện một cách chuyên nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn cơ chế báo cáo, kiểm tra, theo dõi tình hình phát triển người được nhận nuôi trong nước theo quy định hiện hành chưa phát huy hiệu quả, chưa bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi. Việc thiếu cơ chế theo dõi và can thiệp kịp thời khi cần thiết đã dẫn đến một số trường hợp quan hệ nuôi con nuôi bị đổ vỡ. Chính vì vậy, chính sách sẽ bổ sung quy định cho phép những người có trình độ chuyên môn sâu về tâm lý học, công tác xã hội tham gia hỗ trợ giải quyết việc nuôi con nuôi.
Việc xây dựng chính sách Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đang được kỳ vọng sẽ làm tạo hành lang pháp lý hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, thuận lợi cho công tác giải quyết nuôi con nuôi, qua đó đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em; bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi được thực hiện chuyên nghiệp, hiệu quả.
Hoàng Việt Hà
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

Xem thêm »