11/05/2026
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Những chính sách lớn trong sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mớiHòa giải ở cơ sở là một thiết chế giải quyết tranh chấp tại cơ sở mang đậm nét văn hóa truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hoạt động hòa giải nhằm xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để hàn gắn lại mối quan hệ đã bị phá vỡ trên tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản ở cơ sở của của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ Nhân dân. Chính vì vậy, công tác hòa giải ở cơ sở giữ vai trò quan trọng góp phần ổn định an ninh, trật tự trong đời sống xã hội. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Hoà giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Công tác hòa giải ở cơ sở đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhiều mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong Nhân dân được giải quyết kịp thời ngay từ cơ sở; góp phần hạn chế khiếu kiện kéo dài, giảm áp lực cho các cơ quan tư pháp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định xã hội. Tuy nhiên, qua hơn 12 năm thi hành, Luật Hòa giải ở cơ sở đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, một số quy định không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phát triển về kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, đặt ra yêu cầu nghiên cứu, sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của xã hội, đặc biệt nhằm quán triệt, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác hòa giải ở cơ sở tại các Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW… và bảo đảm phù hợp với bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Đến nay, Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc xây dựng chính sách của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Ngày 04/5/2026, Bộ Tư pháp đã có Tờ trình số 63/TTr-BTP trình Chính phủ hồ sơ chính sách dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi), gồm 05 chính sách sau đây:
Chính sách 1: Bổ sung quy định về chỉ định hoà giải viên và quyền, nghĩa vụ của hoà giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, việc lựa chọn hòa giải viên cơ sở được thực hiện thông qua tổ chức bầu tại thôn, tổ dân phố với trình tự, thủ tục cụ thể, chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc dân chủ, công khai. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy một số trường hợp không thể tổ chức bầu được do nhiều nguyên nhân, trong khi cần bổ sung ngay hòa giải viên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhưng việc giải quyết vấn đề này chưa được pháp luật quy định. Do đó, dự kiến bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên trong dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) là một yêu cầu cần thiết nhằm kiện toàn nhân sự, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng hòa giải viên và duy trì hoạt động ổn định, liên tục của tổ hòa giải ở cơ sở. Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên được quy định đầy đủ, toàn diện hơn nhằm nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
Chính sách 2: Xác định rõ phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở
Tại chính sách này, dự kiến quy định cụ thể phạm vi, hình thức tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở, từ đó bảo đảm và tăng cường sự tham gia của người có uy tín, người có chuyên môn pháp luật, kiến thức xã hội, người hiểu phong tục, tập quán địa phương trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Người được mời sẽ tham gia hòa giải theo hình thức tham gia trực tiếp hòa giải cùng với hòa giải viên hoặc tham gia tư vấn, hỗ trợ kiến thức, phương pháp, kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên. Tùy thuộc phạm vi, hình thức tham gia, người được mời sẽ có quyền, nghĩa vụ cụ thể.
Chính sách 3: Quy định về yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành
Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, tuy nhiên tại Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định tương thích về vấn đề này. Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành, đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải xong nhưng vẫn tái phát sinh tranh chấp hoặc khởi kiện ra tòa án, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.
Vì vậy, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung chính sách của Nhà nước về việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải ở cơ sở yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Đồng thời, rà soát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải, nghĩa vụ của hòa giải viên, quy định về tiến hành hoà giải, thực hiện thỏa thuận hoà giải thành…
Đồng thời, bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc lập văn bản về kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải. Bên cạnh đó, bổ sung quy định một bên hoặc các bên tham gia hoà giải có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hoà giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính sách 4: Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở. Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh chủ trương ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 121-KL/TW, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở là xu thế tất yếu. Đây là một trong những chính sách lớn, trọng tâm trong quá trình sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Trong đó, bổ sung chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trang bị phương tiện kỹ thuật, bảo đảm các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, giao quyền chủ động cho địa phương lựa chọn, quyết định hình thức hòa giải truyền thống hoặc có ứng dụng công nghệ số sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế và sự thống nhất của cộng đồng dân cư, của các bên trong hòa giải…
Chính sách 5: Quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở
Trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đã quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở đặt trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoà giải góp phần giữ gìn đoàn kết cộng đồng và ổn định trật tự xã hội. Trọng tâm quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp… Đồng thời, chính sách này cũng xác định rõ trách nhiệm các bộ, cơ quan ngang bộ trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Theo Chương trình lập pháp năm 2026, dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội Khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026)./.
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
Hòa giải ở cơ sở là một thiết chế giải quyết tranh chấp tại cơ sở mang đậm nét văn hóa truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hoạt động hòa giải nhằm xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để hàn gắn lại mối quan hệ đã bị phá vỡ trên tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản ở cơ sở của của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ Nhân dân. Chính vì vậy, công tác hòa giải ở cơ sở giữ vai trò quan trọng góp phần ổn định an ninh, trật tự trong đời sống xã hội. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Hoà giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Công tác hòa giải ở cơ sở đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhiều mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong Nhân dân được giải quyết kịp thời ngay từ cơ sở; góp phần hạn chế khiếu kiện kéo dài, giảm áp lực cho các cơ quan tư pháp, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ổn định xã hội.
Tuy nhiên, qua hơn 12 năm thi hành, Luật Hòa giải ở cơ sở đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, một số quy định không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phát triển về kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, đặt ra yêu cầu nghiên cứu, sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của xã hội, đặc biệt nhằm quán triệt, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác hòa giải ở cơ sở tại các Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW… và bảo đảm phù hợp với bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Đến nay, Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc xây dựng chính sách của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Ngày 04/5/2026, Bộ Tư pháp đã có Tờ trình số 63/TTr-BTP trình Chính phủ hồ sơ chính sách dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi), gồm 05 chính sách sau đây:
Chính sách 1: Bổ sung quy định về chỉ định hoà giải viên và quyền, nghĩa vụ của hoà giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, việc lựa chọn hòa giải viên cơ sở được thực hiện thông qua tổ chức bầu tại thôn, tổ dân phố với trình tự, thủ tục cụ thể, chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc dân chủ, công khai. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy một số trường hợp không thể tổ chức bầu được do nhiều nguyên nhân, trong khi cần bổ sung ngay hòa giải viên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhưng việc giải quyết vấn đề này chưa được pháp luật quy định. Do đó, dự kiến bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên trong dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) là một yêu cầu cần thiết nhằm kiện toàn nhân sự, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng hòa giải viên và duy trì hoạt động ổn định, liên tục của tổ hòa giải ở cơ sở. Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên được quy định đầy đủ, toàn diện hơn nhằm nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
Chính sách 2: Xác định rõ phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở
Tại chính sách này, dự kiến quy định cụ thể phạm vi, hình thức tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở, từ đó bảo đảm và tăng cường sự tham gia của người có uy tín, người có chuyên môn pháp luật, kiến thức xã hội, người hiểu phong tục, tập quán địa phương trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Người được mời sẽ tham gia hòa giải theo hình thức tham gia trực tiếp hòa giải cùng với hòa giải viên hoặc tham gia tư vấn, hỗ trợ kiến thức, phương pháp, kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên. Tùy thuộc phạm vi, hình thức tham gia, người được mời sẽ có quyền, nghĩa vụ cụ thể.
Chính sách 3: Quy định về yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành
Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, tuy nhiên tại Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định tương thích về vấn đề này. Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành, đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải xong nhưng vẫn tái phát sinh tranh chấp hoặc khởi kiện ra tòa án, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.
Vì vậy, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung chính sách của Nhà nước về việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải ở cơ sở yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Đồng thời, rà soát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải, nghĩa vụ của hòa giải viên, quy định về tiến hành hoà giải, thực hiện thỏa thuận hoà giải thành…
Đồng thời, bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc lập văn bản về kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải. Bên cạnh đó, bổ sung quy định một bên hoặc các bên tham gia hoà giải có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hoà giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính sách 4: Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở. Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh chủ trương ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 121-KL/TW, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở là xu thế tất yếu. Đây là một trong những chính sách lớn, trọng tâm trong quá trình sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Trong đó, bổ sung chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trang bị phương tiện kỹ thuật, bảo đảm các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, giao quyền chủ động cho địa phương lựa chọn, quyết định hình thức hòa giải truyền thống hoặc có ứng dụng công nghệ số sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế và sự thống nhất của cộng đồng dân cư, của các bên trong hòa giải…
Chính sách 5: Quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở
Trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đã quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở đặt trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoà giải góp phần giữ gìn đoàn kết cộng đồng và ổn định trật tự xã hội. Trọng tâm quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp… Đồng thời, chính sách này cũng xác định rõ trách nhiệm các bộ, cơ quan ngang bộ trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Theo Chương trình lập pháp năm 2026, dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội Khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026)./.
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý