13/05/2026
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP: Hoàn thiện khung pháp lý xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư phápNgày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 109/2026/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực từ ngày 18/5/2026, thay thế toàn diện Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của ngành Tư pháp.Trong bối cảnh nhiều luật chuyên ngành và Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung, việc ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không chỉ nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước, khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Nghị định số 109/2026/NĐ-CP thể hiện rõ xu hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, cụ thể và tăng cường phân cấp trong xử lý vi phạm hành chính.
Điều chỉnh phạm vi lĩnh vực, bảo đảm thống nhất với tổ chức bộ máy
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là việc điều chỉnh lại phạm vi giữa các lĩnh vực quản lý cho phù hợp với tổ chức bộ máy hiện nay. Theo đó, hoạt động chứng thực được chuyển từ lĩnh vực hành chính tư pháp sang lĩnh vực bổ trợ tư pháp; đồng thời, hoạt động thừa phát lại được chuyển từ bổ trợ tư pháp sang lĩnh vực thi hành án dân sự.
Việc điều chỉnh này góp phần bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng quản lý nhà nước và phạm vi điều chỉnh của quy định xử phạt, tạo thuận lợi trong việc xác định thẩm quyền và qua đó tăng cường hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.
Rà soát, hoàn thiện toàn diện hệ thống hành vi vi phạm
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là việc rà soát, sửa đổi toàn diện hệ thống hành vi vi phạm hành chính trên cơ sở các quy định mới của pháp luật chuyên ngành. Các hành vi vi phạm được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong áp dụng trước đây, đồng thời bổ sung các hành vi mới phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt trong các hoạt động có yếu tố công nghệ và yêu cầu minh bạch cao như đấu giá tài sản.
Trong hoạt động công chứng, Nghị định đã bổ sung các hành vi: “Không xác nhận và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng vào bản sao di chúc về việc sao từ hồ sơ gửi giữ di chúc”; “Không bảo đảm thời gian làm việc theo ngày, giờ làm việc của tổ chức hành nghề công chứng trừ trường hợp bất khả kháng hoặc có lý do chính đáng”…
Trong hoạt động đấu giá tài sản, Nghị định đã bổ sung các hành vi: “Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá”; “Nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá, kết quả đấu giá”; “Thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của người tham gia đấu giá khi tham gia Trang thông tin đấu giá trực tuyến”; “Thay đổi địa điểm tổ chức phiên đấu giá không đúng quy định”; “Giả mạo hồ sơ hoặc cố ý cung cấp thông tin làm sai lệch hồ sơ tham gia lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản”.
Đồng thời, các hành vi không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành cũng được sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Bổ sung cơ chế xử lý hành vi sử dụng giấy tờ giả
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã bổ sung quy định xử lý đối với hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh. Theo đó, đối với các hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật hình sự; trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ xử lý vi phạm hành chính.
Quy định này góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm theo hướng liên thông giữa hành chính và hình sự, bảo đảm không bỏ lọt vi phạm.
Chuẩn hóa hình thức xử phạt, tăng tính minh bạch
Nghị định đã sửa đổi quy định về hình thức xử phạt theo hướng rõ ràng, thống nhất. Theo đó, không còn quy định áp dụng đồng thời “cảnh cáo hoặc phạt tiền” đối với cùng một hành vi như trước đây, mà xác định cụ thể một hình thức xử phạt chính cho từng hành vi vi phạm.
Việc sửa đổi này nhằm bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính, hạn chế sự tùy nghi trong áp dụng pháp luật và nâng cao tính minh bạch trong xử lý vi phạm.
Mở rộng thẩm quyền xử phạt, tăng hiệu quả thực thi
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã bổ sung thẩm quyền xử phạt cho nhiều chức danh. Nghị định bổ sung thẩm quyền xử phạt của nhiều chức danh trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ, Trưởng đồn Công an, Trưởng trạm, Đội trưởng, Trưởng Công an cấp xã, Trưởng phòng An ninh đối ngoại thuộc Công an cấp tỉnh, Trưởng đoàn kiểm tra do Cục Bổ trợ tư pháp thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập, Giám đốc Sở Tư pháp). Trước đây, các chức danh này không có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.
Đồng thời, mức phạt tối đa của một số chức danh cũng được nâng lên (Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc các Cục của Bộ Công an; Trưởng phòng thuộc Công an cấp tỉnh; Giám đốc Công an cấp tỉnh), tạo điều kiện xử lý kịp thời các vi phạm có tính chất nghiêm trọng. Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ngay từ cơ sở.
Quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp
Một điểm mới nổi bật của Nghị định là việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tư pháp. Thay vì dẫn chiếu sang quy định của lĩnh vực ngân hàng như trước đây, Nghị định đã trực tiếp quy định các hành vi vi phạm và mức xử phạt phù hợp với đặc thù của các chủ thể trong lĩnh vực tư pháp như luật sư, công chứng viên, tổ chức hành nghề. Các hành vi tập trung vào những nội dung cốt lõi như nhận biết khách hàng, bảo mật thông tin, phân loại rủi ro… đồng thời mức xử phạt được điều chỉnh theo hướng phù hợp, bảo đảm tính khả thi trong áp dụng.
Nhận diện 38 hành vi vi phạm trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định 38 hành vi vi phạm trong 03 lĩnh vực: Phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý.
Trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật có 06 hành vi vi phạm (Điều 50, Điều 51) gồm: Cản trở quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; cản trở hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lợi dụng danh nghĩa tuyên truyền viên pháp luật để trục lợi; lợi dụng danh nghĩa báo cáo viên pháp luật để trục lợi.
Lĩnh vực hòa giải ở cơ sở có 02 hành vi vi phạm (điểm c, d khoản 1 Điều 50), bao gồm: Cản trở hoạt động hòa giải ở cơ sở đối với tổ hòa giải, hòa giải viên và cản trở các bên giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng hòa giải ở cơ sở.
Đối với lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Nghị định quy định 30 hành vi vi phạm, trong đó:
(i) Đối với người được trợ giúp pháp lý, Điều 53 quy định 04 hành vi vi phạm, bao gồm: Cố ý cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ để đủ điều kiện được trợ giúp pháp lý; đe dọa, cản trở, can thiệp trái pháp luật hoặc gây rối, làm mất trật tự trong hoạt động trợ giúp pháp lý và xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý, uy tín của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
(ii) Đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý, Điều 54 quy định 16 hành vi vi phạm, bao gồm: Các hành vi gian lận trong sử dụng thẻ cộng tác viên; vi phạm nghĩa vụ nghề nghiệp (từ chối, tiếp tục thực hiện, lập và bàn giao hồ sơ không đúng quy định); tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ, làm sai lệch hồ sơ; lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi, nhận tiền, sách nhiễu; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện không có căn cứ; xúi giục cung cấp thông tin sai sự thật, khiếu kiện trái pháp luật; xâm phạm quyền, phân biệt đối xử người được trợ giúp; tiết lộ thông tin vụ việc; thực hiện trợ giúp pháp lý khi không đủ điều kiện.
(iii) Đối với tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, Điều 55 quy định 10 hành vi vi phạm, bao gồm: Vi phạm về chế độ thống kê, báo cáo và quản lý hồ sơ; không chuyển giao hoặc không thông báo chấm dứt vụ việc theo quy định; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; vi phạm trong hoạt động chuyên môn như từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trái quy định, thực hiện sai nội dung đăng ký, thực hiện khi không đủ điều kiện hoặc không chấm dứt khi phải chấm dứt; tiết lộ thông tin vụ việc và người được trợ giúp; mạo danh hoặc lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi và hành vi thành lập tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng quy định.
Việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm nêu trên tạo cơ sở để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và trợ giúp pháp lý của người dân.
Với những sửa đổi, bổ sung toàn diện, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không chỉ khắc phục những bất cập trước đây mà còn nhằm tạo bước chuyển rõ rệt trong cách tiếp cận xây dựng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, theo hướng minh bạch, khả thi và tiệm cận các chuẩn mực quản lý hiện đại./.
Nguyễn Thị Vinh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
Ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 109/2026/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực từ ngày 18/5/2026, thay thế toàn diện Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của ngành Tư pháp.

Trong bối cảnh nhiều luật chuyên ngành và Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung, việc ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không chỉ nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước, khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Nghị định số 109/2026/NĐ-CP thể hiện rõ xu hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, cụ thể và tăng cường phân cấp trong xử lý vi phạm hành chính.
Điều chỉnh phạm vi lĩnh vực, bảo đảm thống nhất với tổ chức bộ máy
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là việc điều chỉnh lại phạm vi giữa các lĩnh vực quản lý cho phù hợp với tổ chức bộ máy hiện nay. Theo đó, hoạt động chứng thực được chuyển từ lĩnh vực hành chính tư pháp sang lĩnh vực bổ trợ tư pháp; đồng thời, hoạt động thừa phát lại được chuyển từ bổ trợ tư pháp sang lĩnh vực thi hành án dân sự.
Việc điều chỉnh này góp phần bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng quản lý nhà nước và phạm vi điều chỉnh của quy định xử phạt, tạo thuận lợi trong việc xác định thẩm quyền và qua đó tăng cường hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.
Rà soát, hoàn thiện toàn diện hệ thống hành vi vi phạm
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là việc rà soát, sửa đổi toàn diện hệ thống hành vi vi phạm hành chính trên cơ sở các quy định mới của pháp luật chuyên ngành. Các hành vi vi phạm được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong áp dụng trước đây, đồng thời bổ sung các hành vi mới phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt trong các hoạt động có yếu tố công nghệ và yêu cầu minh bạch cao như đấu giá tài sản.
Trong hoạt động công chứng, Nghị định đã bổ sung các hành vi: “Không xác nhận và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng vào bản sao di chúc về việc sao từ hồ sơ gửi giữ di chúc”; “Không bảo đảm thời gian làm việc theo ngày, giờ làm việc của tổ chức hành nghề công chứng trừ trường hợp bất khả kháng hoặc có lý do chính đáng”…
Trong hoạt động đấu giá tài sản, Nghị định đã bổ sung các hành vi: “Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá”; “Nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá, kết quả đấu giá”; “Thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của người tham gia đấu giá khi tham gia Trang thông tin đấu giá trực tuyến”; “Thay đổi địa điểm tổ chức phiên đấu giá không đúng quy định”; “Giả mạo hồ sơ hoặc cố ý cung cấp thông tin làm sai lệch hồ sơ tham gia lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản”.
Đồng thời, các hành vi không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành cũng được sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Bổ sung cơ chế xử lý hành vi sử dụng giấy tờ giả
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã bổ sung quy định xử lý đối với hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh. Theo đó, đối với các hành vi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật hình sự; trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ xử lý vi phạm hành chính.
Quy định này góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm theo hướng liên thông giữa hành chính và hình sự, bảo đảm không bỏ lọt vi phạm.
Chuẩn hóa hình thức xử phạt, tăng tính minh bạch
Nghị định đã sửa đổi quy định về hình thức xử phạt theo hướng rõ ràng, thống nhất. Theo đó, không còn quy định áp dụng đồng thời “cảnh cáo hoặc phạt tiền” đối với cùng một hành vi như trước đây, mà xác định cụ thể một hình thức xử phạt chính cho từng hành vi vi phạm.
Việc sửa đổi này nhằm bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính, hạn chế sự tùy nghi trong áp dụng pháp luật và nâng cao tính minh bạch trong xử lý vi phạm.
Mở rộng thẩm quyền xử phạt, tăng hiệu quả thực thi
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP đã bổ sung thẩm quyền xử phạt cho nhiều chức danh. Nghị định bổ sung thẩm quyền xử phạt của nhiều chức danh trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ, Trưởng đồn Công an, Trưởng trạm, Đội trưởng, Trưởng Công an cấp xã, Trưởng phòng An ninh đối ngoại thuộc Công an cấp tỉnh, Trưởng đoàn kiểm tra do Cục Bổ trợ tư pháp thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập, Giám đốc Sở Tư pháp). Trước đây, các chức danh này không có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.
Đồng thời, mức phạt tối đa của một số chức danh cũng được nâng lên (Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc các Cục của Bộ Công an; Trưởng phòng thuộc Công an cấp tỉnh; Giám đốc Công an cấp tỉnh), tạo điều kiện xử lý kịp thời các vi phạm có tính chất nghiêm trọng. Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ngay từ cơ sở.
Quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp
Một điểm mới nổi bật của Nghị định là việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tư pháp. Thay vì dẫn chiếu sang quy định của lĩnh vực ngân hàng như trước đây, Nghị định đã trực tiếp quy định các hành vi vi phạm và mức xử phạt phù hợp với đặc thù của các chủ thể trong lĩnh vực tư pháp như luật sư, công chứng viên, tổ chức hành nghề. Các hành vi tập trung vào những nội dung cốt lõi như nhận biết khách hàng, bảo mật thông tin, phân loại rủi ro… đồng thời mức xử phạt được điều chỉnh theo hướng phù hợp, bảo đảm tính khả thi trong áp dụng.
Nhận diện 38 hành vi vi phạm trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý
Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định 38 hành vi vi phạm trong 03 lĩnh vực: Phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý.
Trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật có 06 hành vi vi phạm (Điều 50, Điều 51) gồm: Cản trở quyền được thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; cản trở hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lợi dụng danh nghĩa tuyên truyền viên pháp luật để trục lợi; lợi dụng danh nghĩa báo cáo viên pháp luật để trục lợi.
Lĩnh vực hòa giải ở cơ sở có 02 hành vi vi phạm (điểm c, d khoản 1 Điều 50), bao gồm: Cản trở hoạt động hòa giải ở cơ sở đối với tổ hòa giải, hòa giải viên và cản trở các bên giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng hòa giải ở cơ sở.
Đối với lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Nghị định quy định 30 hành vi vi phạm, trong đó:
(i) Đối với người được trợ giúp pháp lý, Điều 53 quy định 04 hành vi vi phạm, bao gồm: Cố ý cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ để đủ điều kiện được trợ giúp pháp lý; đe dọa, cản trở, can thiệp trái pháp luật hoặc gây rối, làm mất trật tự trong hoạt động trợ giúp pháp lý và xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý, uy tín của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
(ii) Đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý, Điều 54 quy định 16 hành vi vi phạm, bao gồm: Các hành vi gian lận trong sử dụng thẻ cộng tác viên; vi phạm nghĩa vụ nghề nghiệp (từ chối, tiếp tục thực hiện, lập và bàn giao hồ sơ không đúng quy định); tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ, làm sai lệch hồ sơ; lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi, nhận tiền, sách nhiễu; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện không có căn cứ; xúi giục cung cấp thông tin sai sự thật, khiếu kiện trái pháp luật; xâm phạm quyền, phân biệt đối xử người được trợ giúp; tiết lộ thông tin vụ việc; thực hiện trợ giúp pháp lý khi không đủ điều kiện.
(iii) Đối với tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, Điều 55 quy định 10 hành vi vi phạm, bao gồm: Vi phạm về chế độ thống kê, báo cáo và quản lý hồ sơ; không chuyển giao hoặc không thông báo chấm dứt vụ việc theo quy định; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; vi phạm trong hoạt động chuyên môn như từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trái quy định, thực hiện sai nội dung đăng ký, thực hiện khi không đủ điều kiện hoặc không chấm dứt khi phải chấm dứt; tiết lộ thông tin vụ việc và người được trợ giúp; mạo danh hoặc lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi và hành vi thành lập tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng quy định.
Việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm nêu trên tạo cơ sở để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và trợ giúp pháp lý của người dân.
Với những sửa đổi, bổ sung toàn diện, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP không chỉ khắc phục những bất cập trước đây mà còn nhằm tạo bước chuyển rõ rệt trong cách tiếp cận xây dựng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, theo hướng minh bạch, khả thi và tiệm cận các chuẩn mực quản lý hiện đại./.
Nguyễn Thị Vinh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý