Ngày 03/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Tình trạng khẩn cấp với tỷ lệ đồng thuận rất cao (419/420 đại biểu đồng thuận). Luật được ban hành thay thế cho Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Luật Tình trạng khẩn cấp có 6 chương, 36 Điều, quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp; tổ chức thi hành nghị quyết, lệnh về tình trạng khẩn cấp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
1. Xác định rõ các loại tình trạng khẩn cấp
Tình trạng khẩn cấp theo quy định của Luật là trạng thái xã hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Theo đó, có 03 loại tình trạng khẩn cấp, đó là (i) Tình trạng khẩn cấp về thảm họa; (ii) Tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và (iii) Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
2. Các hành vi bị nghiêm cấm trong tình trạng khẩn cấp
- Chống đối, cản trở, không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, yêu cầu của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp.
- Lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…
3. Các biện pháp áp dụng khi xảy ra tình trạng khẩn cấp
- Đối với tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa (thiên tai, dịch bệnh, sự cố bức xạ…), có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp như các biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự; (ii) Các biện pháp ứng phó sự cố về môi trường, hóa chất, bức xạ, hạt nhân, năng lượng hoặc các sự cố khác theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có liên quan; (iii) Di dời, cưỡng chế di dời người dân trong các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn; (iv) Tổ chức lực lượng để bảo đảm an ninh và trật tự, an toàn xã hội, tăng cường bảo vệ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp; (v) Yêu cầu các doanh nghiệp chuyển đổi sản xuất, kinh doanh hàng hóa cần thiết để ứng phó thảm họa; (vi) Áp dụng biện pháp bình ổn giá theo quy định của pháp luật về giá; sử dụng vũ khí, vũ lực, công cụ hỗ trợ để ngăn chặn, bắt giữ người và phương tiện vi phạm; tạm đình chỉ trách nhiệm người đứng đầu.
- Đối với tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự,an toàn xã hội, có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp như (i) Biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, ứng phó, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật; (ii) Biện pháp áp dụng trong thời gian giới nghiêm quy định tại Luật Quốc phòng; (iii) Tăng cường bảo vệ các cơ quan trọng yếu, cơ mật và cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cấp cao của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, khách mời của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, địa điểm quan trọng; (iv) Chỉ định cảng hàng không, sân bay hạ cánh cho tàu bay, nơi cập bến, neo đậu cho tàu thuyền, nhà ga cho tàu hỏa, điểm đỗ cho ô tô và các phương tiện giao thông khác; kiểm soát các chuyến bay quá cảnh qua địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;…
- Đối với tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp như (i) Các biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự; (ii) Biện pháp áp dụng trong thời gian thiết quân luật tại Bộ Quốc phòng; (iii) Cấm xuất khẩu đối với các mặt hàng có liên quan đến quốc phòng.
4. Thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; áp dụng các biện pháp khi xảy ra tình trạng khẩn cấp
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có quyền quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước ra Lệnh công bố tình trạng khẩn cấp, Lệnh bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
- Thủ tướng Chính phủ có quyền áp dụng các biện pháp tại các trường hợp khẩn cấp nêu trên. Trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh áp dụng biện pháp trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quyết định áp dụng biện pháp phòng thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp./.
Hoàng Việt Hà
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý