17/04/2026
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Đổi mới tư duy lập pháp nhìn từ các dự án luật, nghị quyết do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảoTại Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình bày trước Quốc hội Tờ trình về 05 dự án luật sửa đổi quan trọng, bao gồm: Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) và 02 nghị quyết của Quốc hội bao gồm: Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Nghị quyết về thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Các dự án luật, nghị quyết không chỉ khắc phục những bất cập cụ thể mà còn thể hiện đổi mới tư duy trong công tác lập pháp, hướng tới xây dựng nền pháp luật hiện đại, minh bạch và vận hành hiệu quả.Đối với dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), dự thảo Luật được xây dựng theo hướng tạo lập cơ chế đặc thù, vượt trội cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Cụ thể, dự thảo đề xuất đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền thành phố trong các lĩnh vực như quy hoạch, tài chính, đất đai; đồng thời, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, dự thảo còn cho phép thí điểm một số mô hình quản lý mới gắn với đô thị thông minh và chính quyền số. Những nội dung này không chỉ phục vụ riêng cho Thủ đô mà còn có ý nghĩa thử nghiệm, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình quản trị hiệu quả trong phạm vi cả nước.
Đối với Luật Hộ tịch (sửa đổi), dự thảo Luật tập trung vào việc hiện đại hóa công tác quản lý hộ tịch thông qua chuyển đổi số. Cụ thể, dự thảo quy định việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm kết nối và chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, các thủ tục đăng ký hộ tịch như khai sinh, kết hôn, khai tử được đơn giản hóa và từng bước thực hiện trên môi trường điện tử. Việc sửa đổi theo hướng này không chỉ giúp giảm giấy tờ, giảm chi phí cho người dân, mà còn tạo nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm triển khai nhiệm vụ được thông suốt, hiệu quả, kịp thời, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Cụ thể, dự thảo Luật đã sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung. Dự thảo Luật cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi có yêu cầu để phục vụ việc xác minh, giám định tài liệu trong quá trình tố tụng, đồng thời quy định trách nhiệm bảo quản và hoàn trả bản gốc văn bản công chứng. Quy định này một mặt tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình tiến hành tố tụng, mặt khác bảo đảm nguồn gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, phục vụ kịp thời yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng. Bên cạnh đó, dự thảo tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc số hóa hồ sơ công chứng và từng bước triển khai công chứng điện tử. Những sửa đổi này tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm thông qua việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý. Theo đó, ngoài các đối tượng được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, dự thảo Luật bổ sung các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, có nguy cơ không tự bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình (người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, sự kiện bất khả kháng, tình trạng khẩn cấp theo theo quy định của pháp luật…). Đồng thời, dự thảo Luật cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý thông qua tiêu chuẩn chuyên môn và cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ; bổ sung trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác trợ giúp pháp lý. Dự thảo Luật bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo lập, kết nối dữ liệu phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số. Đồng thời, dự thảo Luật đã bỏ các điều khoản quy định thành phần hồ sơ, trình tự thực hiện trợ giúp pháp lý và sửa đổi theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết. Điều chỉnh này phù hợp với định hướng đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật hiện hành.
Đối với Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), dự thảo Luật hướng tới tăng cường tính minh bạch trong hoạt động và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay và yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới. Nội dung sửa đổi tập trung vào việc mở rộng phạm vi thông tin mà công dân được quyền tiếp cận; quy định cụ thể hơn về trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức; đồng thời, bổ sung cơ chế cung cấp thông tin qua môi trường số nhằm tạo điều kiện cho người dân trong tiếp cận thông tin. Song song với đó, dự thảo cũng làm rõ các trường hợp thông tin bị hạn chế tiếp cận nhằm bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước. Cách tiếp cận này nhằm thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa quyền được biết của người dân và yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự.
Đối với Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, dự thảo được xây dựng trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chủ động hội nhập quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia ngày càng đặt ra cấp thiết. Dự thảo thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng pháp luật theo hướng lấy phòng ngừa làm trọng tâm, giải quyết tranh chấp là nhiệm vụ then chốt, bảo đảm xử lý tranh chấp một cách chủ động, kịp thời, hiệu quả. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất xây dựng Trung tâm Phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế với cơ chế hoạt động linh hoạt, cùng các chính sách đặc thù về tổ chức, nhân lực và tài chính, thể hiện định hướng “đầu tư cho phòng ngừa”, nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và chi phí tranh chấp trong dài hạn. Bên cạnh đó, dự thảo cũng thể hiện rõ định hướng cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân quyền, phân cấp đi đôi với kiểm soát trách nhiệm, đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, xử lý tranh chấp. Đây là bước chuyển quan trọng, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đối với Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm thực hiện chế định luật sư công, dự thảo Nghị quyết thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng pháp luật theo hướng tăng cường năng lực pháp lý cho khu vực nhà nước, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh các quan hệ pháp lý ngày càng đa dạng, phức tạp. Việc nghiên cứu, đề xuất thí điểm chế định luật sư công nhằm từng bước hình thành đội ngũ nhân lực có chuyên môn sâu về pháp luật, góp phần hỗ trợ các cơ quan, tổ chức trong việc xử lý các vấn đề pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết được xây dựng theo hướng thận trọng, có lộ trình khi lựa chọn thực hiện thí điểm tại một số bộ, ngành, địa phương, qua đó tạo cơ sở đánh giá hiệu quả trước khi xem xét triển khai trên phạm vi rộng. Các quy định về tiêu chuẩn, phạm vi hoạt động, quyền và nghĩa vụ của luật sư công được xác định tương đối rõ, góp phần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong tổ chức thực hiện. Có thể thấy, việc xây dựng Nghị quyết không chỉ nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn trước mắt mà còn góp phần hoàn thiện thể chế, từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Từ các dự án luật, nghị quyết nêu trên cho thấy định hướng cải cách nhất quán, đó là chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, trong đó người dân được đặt ở vị trí trung tâm, dữ liệu được coi là nền tảng và hiệu quả thực thi được xem là tiêu chí đánh giá cuối cùng. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở việc hoàn thiện quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức thi hành pháp luật, nguồn lực bảo đảm và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong hệ thống nhà nước.
Vinh Nguyễn
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
Tại Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình bày trước Quốc hội Tờ trình về 05 dự án luật sửa đổi quan trọng, bao gồm: Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) và 02 nghị quyết của Quốc hội bao gồm: Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Nghị quyết về thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Các dự án luật, nghị quyết không chỉ khắc phục những bất cập cụ thể mà còn thể hiện đổi mới tư duy trong công tác lập pháp, hướng tới xây dựng nền pháp luật hiện đại, minh bạch và vận hành hiệu quả.
Đối với dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), dự thảo Luật được xây dựng theo hướng tạo lập cơ chế đặc thù, vượt trội cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Cụ thể, dự thảo đề xuất đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền thành phố trong các lĩnh vực như quy hoạch, tài chính, đất đai; đồng thời, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, dự thảo còn cho phép thí điểm một số mô hình quản lý mới gắn với đô thị thông minh và chính quyền số. Những nội dung này không chỉ phục vụ riêng cho Thủ đô mà còn có ý nghĩa thử nghiệm, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình quản trị hiệu quả trong phạm vi cả nước.
Đối với Luật Hộ tịch (sửa đổi), dự thảo Luật tập trung vào việc hiện đại hóa công tác quản lý hộ tịch thông qua chuyển đổi số. Cụ thể, dự thảo quy định việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm kết nối và chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, các thủ tục đăng ký hộ tịch như khai sinh, kết hôn, khai tử được đơn giản hóa và từng bước thực hiện trên môi trường điện tử. Việc sửa đổi theo hướng này không chỉ giúp giảm giấy tờ, giảm chi phí cho người dân, mà còn tạo nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm triển khai nhiệm vụ được thông suốt, hiệu quả, kịp thời, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Cụ thể, dự thảo Luật đã sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung. Dự thảo Luật cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi có yêu cầu để phục vụ việc xác minh, giám định tài liệu trong quá trình tố tụng, đồng thời quy định trách nhiệm bảo quản và hoàn trả bản gốc văn bản công chứng. Quy định này một mặt tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình tiến hành tố tụng, mặt khác bảo đảm nguồn gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, phục vụ kịp thời yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng. Bên cạnh đó, dự thảo tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc số hóa hồ sơ công chứng và từng bước triển khai công chứng điện tử. Những sửa đổi này tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm thông qua việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý. Theo đó, ngoài các đối tượng được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, dự thảo Luật bổ sung các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, có nguy cơ không tự bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình (người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, sự kiện bất khả kháng, tình trạng khẩn cấp theo theo quy định của pháp luật…). Đồng thời, dự thảo Luật cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý thông qua tiêu chuẩn chuyên môn và cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ; bổ sung trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác trợ giúp pháp lý. Dự thảo Luật bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo lập, kết nối dữ liệu phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số. Đồng thời, dự thảo Luật đã bỏ các điều khoản quy định thành phần hồ sơ, trình tự thực hiện trợ giúp pháp lý và sửa đổi theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết. Điều chỉnh này phù hợp với định hướng đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật hiện hành.
Đối với Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), dự thảo Luật hướng tới tăng cường tính minh bạch trong hoạt động và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay và yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới. Nội dung sửa đổi tập trung vào việc mở rộng phạm vi thông tin mà công dân được quyền tiếp cận; quy định cụ thể hơn về trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức; đồng thời, bổ sung cơ chế cung cấp thông tin qua môi trường số nhằm tạo điều kiện cho người dân trong tiếp cận thông tin. Song song với đó, dự thảo cũng làm rõ các trường hợp thông tin bị hạn chế tiếp cận nhằm bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước. Cách tiếp cận này nhằm thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa quyền được biết của người dân và yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự.
Đối với Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, dự thảo được xây dựng trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chủ động hội nhập quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia ngày càng đặt ra cấp thiết. Dự thảo thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng pháp luật theo hướng lấy phòng ngừa làm trọng tâm, giải quyết tranh chấp là nhiệm vụ then chốt, bảo đảm xử lý tranh chấp một cách chủ động, kịp thời, hiệu quả. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất xây dựng Trung tâm Phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế với cơ chế hoạt động linh hoạt, cùng các chính sách đặc thù về tổ chức, nhân lực và tài chính, thể hiện định hướng “đầu tư cho phòng ngừa”, nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và chi phí tranh chấp trong dài hạn. Bên cạnh đó, dự thảo cũng thể hiện rõ định hướng cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân quyền, phân cấp đi đôi với kiểm soát trách nhiệm, đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, xử lý tranh chấp. Đây là bước chuyển quan trọng, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đối với Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm thực hiện chế định luật sư công, dự thảo Nghị quyết thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng pháp luật theo hướng tăng cường năng lực pháp lý cho khu vực nhà nước, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh các quan hệ pháp lý ngày càng đa dạng, phức tạp. Việc nghiên cứu, đề xuất thí điểm chế định luật sư công nhằm từng bước hình thành đội ngũ nhân lực có chuyên môn sâu về pháp luật, góp phần hỗ trợ các cơ quan, tổ chức trong việc xử lý các vấn đề pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết được xây dựng theo hướng thận trọng, có lộ trình khi lựa chọn thực hiện thí điểm tại một số bộ, ngành, địa phương, qua đó tạo cơ sở đánh giá hiệu quả trước khi xem xét triển khai trên phạm vi rộng. Các quy định về tiêu chuẩn, phạm vi hoạt động, quyền và nghĩa vụ của luật sư công được xác định tương đối rõ, góp phần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong tổ chức thực hiện. Có thể thấy, việc xây dựng Nghị quyết không chỉ nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn trước mắt mà còn góp phần hoàn thiện thể chế, từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Từ các dự án luật, nghị quyết nêu trên cho thấy định hướng cải cách nhất quán, đó là chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, trong đó người dân được đặt ở vị trí trung tâm, dữ liệu được coi là nền tảng và hiệu quả thực thi được xem là tiêu chí đánh giá cuối cùng. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở việc hoàn thiện quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức thi hành pháp luật, nguồn lực bảo đảm và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong hệ thống nhà nước.
Vinh Nguyễn
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý